Hotline: 0982.425.489
 

Một số tin chính thị trường thức ăn chăn nuôi ngày 1/4/2020

1. Giá ngô CBOT ngày 31/3: Giảm điểm sau khi USDA công bố dự báo diện tích gieo trồng năm 2020 ở mức cao nhất kể từ năm 1937

THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

Đvt: USD/tấn

Nguồn gốc

31/3

30/3

Ghi chú

Ngô: Giá ngô CBOT giảm nhẹ trong phiên giao dịch hôm qua sau khi USDA công bố dự báo diện tích gieo trồng năm 2020 ở mức cao nhất kể từ năm 1937, vượt xa kì vọng thương mại. Tính trung bình trong tháng, giá ngô đã giảm 7,5% mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 8/2019.

Mỹ - CBOT

134,1

134,3

Kỳ hạn tháng 5/2020

Mỹ - CBOT

136,2

136,8

Kỳ hạn tháng 7/2020

Brazil – BMF

162,4

158,8

Kỳ hạn tháng 5/2020

Brazil – BMF

148,9

149,3

Kỳ hạn tháng 7/2020

2. Giá lúa mỳ CBOT ngày 31/3: Giảm điểm nhưng giá đã tăng 8.3% nếu tính chung trong tháng

THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

Đvt: USD/tấn

Nguồn gốc

31/3

30/3

Ghi chú

Lúa mỳ: Giá lúa mỳ CBOT giảm nhẹ trong phiên giao dịch cuối tháng nhưng tính chung trong tháng giá lúa mỳ đã tăng 8,3%, mức tăng cao nhất kể từ tháng 5/2019 chủ yếu nhờ nhu cầu lúa mì thực phẩm tăng cao.

Mỹ - CBOT

208,9

209,2

Kỳ hạn tháng 5/2020

Mỹ - CBOT

206,6

205,1

Kỳ hạn tháng 7/2020

 

3. Giá đậu tương CBOT ngày 31/3: Tăng điểm nhẹ do giới đầu cơ chốt lời

THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

Đvt: USD/tấn

Nguồn gốc

31/3

30/3

Ghi chú

Đậu tương: Giá đậu tương tăng nhẹ trong khi giá khô đậu tương giảm khá mạnh do giới đầu cơ chốt lời

Mỹ - CBOT

325,5

324,2

Kỳ hạn tháng 5/2020

Mỹ - CBOT

326,8

325,7

Kỳ hạn tháng 7/2020

Brazil - BMF

325,5

324,2

Kỳ hạn tháng 5/2020

Brazil - BMF

326,8

325,7

Kỳ hạn tháng 7/2020

Khô đậu tương:

Mỹ - CBOT

354,5

358,9

Kỳ hạn tháng 5/2020

Mỹ - CBOT

351,6

353,8

Kỳ hạn tháng 7/2020

4. Mỹ: Tồn kho ngô, lúa mì và đậu tương Mỹ tại thời điểm 1/3/2020 giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước

Lượng tồn kho ngô, lúa mì và đậu tương Mỹ tại thời điểm 1/3/2020 ( so với cùng kỳ năm trước, triệu bushel)

 

01/03/2019

01/03/2020

2020/2019

Ngô

8613

7952

-7.7

Lúa mì

1593

1412

-11.4

Đậu tương

2727

2253

-17.4

5. Brazil: Các nhà phân phối ethanol của Brazil tuyên bố giảm mua từ các nhà cung cấp vì lý do bất khả kháng.

Liên doanh Raizen và Petrobras Distribuidora SA, hai nhà phân phối nhiên liệu lớn nhất của Brazil đã tuyên bố giảm mua ethanol từ các nhà cung cấp với lý do bất khả kháng trong bối cảnh đại dịch covid-19 đã làm giảm mạnh nhu cầu sử dụng xăng dầu. Việc tuyên bố lý do bất khả kháng cho phép các đơn vị này miễn trừ các trách nhiệm trước các thảm họa tự nhiên và sự kiện không lường trước được. Các nhà sản xuất ethanol bị ảnh hưởng bởi quyết định này đang tìm cách bắt đầu các cuộc đàm phán với các nhà phân phối để tranh luận về tuyên bố bất khả kháng này. Nếu thất bại, họ có thể khởi kiện. Ông Paulo Miranda Soares, chủ tịch của một nhóm đại diện cho các trạm xăng cho biết hôm 25/3 rằng, tiêu thụ nhiên liệu ở Brazil đã giảm khoảng 50% trong một tuần do các tài xế nghỉ làm trong khi đó cơ quan điều tiết nguồn cung dầu của Brazil (ANP) cho biết tiêu thụ xăng dầu sẽ tiếp tục giảm mạnh hơn trong những tuần tới.

6. Brazil: Có thể phải nhập khẩu khoảng 7 triệu tấn lúa mỳ khi sản xuất nội địa không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ

Theo báo cáo Phòng kinh tế nông nghiêp bang Parana, bang sản xuất lúa mỳ lớn nhất Brazil, đưa ra vào ngày 28/3, nông dân bang Parana dự kiến sẽ tăng diện tích lúa mỳ vụ đông năm 2020 thêm 5% lên mức 1,08 triệu ha trong bối cảnh giá lúa mỳ nội đia tăng cao và nông dân bang này sẽ chuyển sang trồng lúa mỳ thay vì ngô vụ hai (Safrina) do đã qua khung thời vụ gieo trồng ngô lý tưởng. Nhờ vậy, sản lượng lúa mỳ năm 2020 của bang này có thể đạt 3,5 triệu tấn, tăng mạnh 63% so với năm ngoái nếu thời tiết thuận lợi.

Brazil là một trong những nhà nhập khẩu lúa mỳ lớn nhất thế giới vì Brazil chỉ sản xuất khoảng một nửa nhu cầu lúa mỳ trong nước. Do vậy, nước này phải nhập khẩu thêm lúa mỳ chủ yếu từ Argentina. Hiện Conab ước tính Brazil sẽ cần nhập khẩu khoảng 7,0 triệu tấn lúa mỳ để đáp ứng nhu cầu trong nước.

7. Trung Quốc: Cho phép Canada tiếp tục xuất khẩu hạt cải ngọt sang nước này với điều kiện tạp chất dưới 1%. Nước này cũng đang tích cực mua đậu tương từ Brazil.

Bộ trưởng Nông nghiệp Canada hôm qua (31/3) cho biết Trung Quốc đã đồng ý cho phép Canada tiếp tục xuất khẩu hạt cải ngọt sang Trung Quốc với điều kiện hàm lượng tạp chất dưới 1%. Năm ngoái, với lý do lo ngại về dịch hại, Trung Quốc đã ngừng nhập các lô hàng hạt cải từ Richardson International và Viterra Inc, hai nhà xuất khẩu hạt cải ngọt hàng đầu của Canada để đáp trả lại việc Canada bắt giữ giám đốc tài chính của tập đoàn Huawei Technologies Co Ltd (Trung Quốc). Các lô hàng từ các công ty khác vẫn được cho phép nhưng gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi các nguồn tin Trung Quốc cho rằng nhập khẩu hạt cải ngọt sẽ tiếp tục thì chính phủ Canada cho biết vẫn không có thỏa thuận nào đạt được để cho phép hai nhà cung cấp lớn, Richardson và Viterra quay lại thị trường hạt cải Trung Quốc. Theo một nguồn tin chính phủ Canada, vẫn chưa có hợp đồng mới nào được ký kết giữa Canada và Trung Quốc trong khoảng 2-3 tuần nay.

Thương nhân quốc tế cho biết, Trung Quốc tiếp tục tích cực mua đậu tương Brazil do giá đậu tương Brazil về cảng Trung Quốc vẫn rẻ hơn đậu tương Mỹ xuất từ PNW. Hôm qua, nước này đã mua khoảng 4-5 lô hàng đậu tương từ Brazil.

8. Các nước nhập khẩu lớn quay trở lại mua ngô, lúa mỳ

Cơ quan thu mua ngũ cốc nhà nước Tunisia (ODC) đấu thầu mua 75 nghìn tấn lúa mỳ có nguồn gốc bất kì, shipment từ tháng 4 đến tháng 5.

Cơ quan thu mua ngũ cốc nhà nước Algeria (ONAB) quay trở lại thị trường để đấu thầu mua 40 nghìn tấn ngô có nguồn gốc từ Ukraina, Mỹ hoặc Argentina, shipment từ 20/4-5/5

9. Mỹ : USDA dự báo diện tích gieo trồng ngô niên vụ 2020/2021 của Mỹ cao hơn nhiều so với ước tính thương mại, trong khi diện tích gieo trồng đậu tương thấp hơn. Tuy nhiên, sau khi điều chỉnh con số gieo trồng thực tế niên vụ 2019/2020 thì diện tích đậu tương Mỹ vụ 2020/2021 vẫn có sự mở rộng khoảng 10%

Hôm qua, Bộ NN Mỹ công bố báo cáo về triển vọng diện tích gieo trồng và tồn kho. Theo đó, diện tích gieo trồng ngô vụ 2020/2021 được ước tính tăng 8%, đậu tương tăng 10% trong khi lúa mì giảm 1% so với vụ trước. Với con số 97 triệu giạ theo như ước tính của Bộ NN Mỹ, diện tích trồng ngô Mỹ ghi nhận mức kỷ lục kể từ năm 2013. Trong sáng cùng ngày, Bộ NN Mỹ công bố con số diện tích gieo trồng thực tế niên vụ 2019/2020 cho thấy ngô và đậu tương có sự sụt giảm khá lớn so với con số dự kiến do thời tiết không thuận lợi.

Triển vọng diện tích gieo trồng ngô, lúa mì, đậu tương Mỹ niên vụ 2020/2021 (triệu giạ)

 

 

2018/2019

2019/2020

2020/2021

Ngô

Diện tích gieo trồng dự kiến

88,0

92,8

97,0

Diện tích gieo trồng thực tế

89,1

89,7

???

Đậu tương

Diện tích gieo trồng dự kiến

89,0

84,6

83,5

Diện tích gieo trồng thực tế

89,2

76,1

???

Lúa mì

Diện tích gieo trồng dự kiến

47.3

45.8

44.7

Diện tích gieo trồng thực tế

47.8

45.2

 

So với ước tính trung bình của các thương nhân và nhà phân tích thì diện tích gieo trồng ngô Mỹ có sự chênh lệch khá lớn trong khi đậu tương và lúa mì khá sát. Giới thương nhân tiếp tục hoài nghi về con số này khi tình hình tiêu thụ ngô cho sản xuất cồn giảm mạnh và giá ngô Mỹ đang ở mức thấp nhất trong 1.5 năm. Tuy nhiên, do báo cáo được Cơ quan thống kê Bộ NN Mỹ (NASS- USDA) tiến hành trong tuần đầu tiên của tháng 3 – giai đoạn chưa ghi nhận sự giảm sâu của giá dầu và sự sụp đổ của nhiều nhà máy ethanol Mỹ. Do đó, thực tế gieo trồng sẽ tuỳ thuộc vào diễn biến thời tiết tại Mỹ và các yếu tố liên quan đến cung cầu.

Triển vọng diện tích gieo trồng ngô, lúa mì, đậu tương Mỹ so với kỳ vọng thị trường (triệu giạ)

 

Ngô

Đậu tương

Lúa mì

Diện tích kỳ vọng

97.0

83.5

44.7

Thương nhân ước tính

94.3

84.9

45.0

Diện tích thực tế

89.7

76.1

45.2

 

THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM

Các diễn biến chính của thị trường

 

 

- Một số bên CNF hạn chế chào ngô ship 11/12 trong khi số khác thì tăng mạnh giá basis lẫn giá CNF

 

- Giao dịch ngô tại miền Bắc chững lại do các bên trở lại trạng thái thăm dò, chờ động thái bán ra của các kho

 

- Tại miền Nam, giá ngô tăng tiếp, hướng đến mốc 6.300 đồng/kg cho hàng Nam Mỹ do tàu ngô về nửa cuối tháng 4 ít lại

 

- Giao dịch khô đậu tương ở cả 2 miền trầm lắng, các bên thương mại vẫn giữ giá chào ở mức cao, quanh 10.000 đồng/kg

 

- Ngày đầu tiên thực hiện cách ly toàn quốc, việc vận chuyển và lưu thông hàng hoá vẫn diễn ra bình thường, nhưng lái xe có xu hướng nghỉ làm nhiều hơn do lo ngại dịch bệnh và tình hình kiểm soát chặt chẽ hơn.

1. Giá chào khô đậu tương Nam Mỹ bán nội địa tại Cái Lân ngày 1/4: Giá khô đậu tương giao ngay được giữ ở mức cao tuy nhiên nhu cầu đang rất yếu

Giá chào khô đậu tương Nam Mỹ tại cảng miền Bắc (VND/kg)

Thời hạn giao

Cái Lân

3

10,000

4

9,900

5

9750

6

9800

7

10,000

2. Giá lúa mỳ bán nội địa tại Vũng Tàu ngày 1/4: Tăng theo đà tăng của giá thế giới và tình trạng khan hiếm của các loại nguyên liệu khác

Diễn biến giao dịch (đồng/kg)

NGUYÊN LIỆU

01/04

31/03

GHI CHÚ

LÚA MỲ

Cái Lân- lúa Nam Mỹ - giao tháng 4

6400

6400

Giá lúa mì được đẩy tăng theo đà tăng của giá thế giới và tình trạng khan hiếm của các loại nguyên liệu khác

 

 

 

Tin miễn phí